Đấu thầu Mua săm công

Bình chọn

Theo bạn thông tin nội dung website thế nào ?

Phong phú đa dạng
Dễ sử dụng
Hữu ích

23 người đã tham gia bình chọn

Thống kê truy cập

Số lượng và lượt người truy cập

  • Online 1

  • Hôm nay 1137

  • Tổng 687.584

LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN-DANH NHÂN VĂN HÓA

Post date: 14/10/2022

Font size : A- A A+

 

Quảng Lưu là mảnh đất có bề dày về lịch sử- văn hóa, truyền thống với những địa danh ghi dấu còn lưu truyền đến hôm nay và mai sau như: Lũy Hoàn Vương, cột cờ Vọng  Bái, Đồng Chăm, Phế Đô Lâm Ấp...., cùng những hiện vật như Rìu đá, Lao đồng...., là nơi duy nhất cho đến nay ở Quảng Bình phát hiện 2 Trống Đồng (Trống Đồng Phù Lưu, Trống Đồng Trung Thuần) thuộc nền văn hóa Đông Sơn. Cũng là nơi lập chiến khu của các thời đại: Từ bãi chiến trường của Trịnh - Nguyễn phân tranh, chiến khu Lê Trực, đến chiến khu cách mạng “Trung Thuần”.

Cụ Nguyễn Tú một nhà viết sử khi thăm Quảng Lưu có đặt câu hỏi “Tại sao các thời đại đều lấy nơi đây làm căn cứ?”. Theo suy nghĩ của chúng tôi có lẽ do thế đất, thế núi mà người ta thường nói là “địa linh”, và cũng do lòng người, núi rừng, khe suối, làng mạc Quảng Lưu không quá hiểm trở, nhưng cũng đủ để có thể vừa tấn công vừa phòng thủ an toàn, vừa có thể khống chế, bao quát được cả một vùng rộng lớn của Quảng Trạch, lại nằm án ngữ trên đường thiên lý Bắc- Nam, đất đai Quảng Lưu cũng thuộc loại thượng gia hạ điền. Người dân Quảng Lưu cần cù, một nắng hai sương, giàu lòng yêu quê hương, đất nước, cứng cỏi mà rộng lượng bao dung. Đặc biệt từ khi có làn gió cách mạng thổi vào, nhân dân Quảng Lưu đã một lòng theo Đảng làm cách mạng, với bao phong trào yêu nước được dấy lên, tháng 6 năm 1939 chi bộ Trung Thuần tiền thân của Đảng bộ Quảng Lưu được thành lập. Từ đó con đường cách mạng của nhân dân Quảng Lưu đã có Đảng dẫn đường.

Trong thời đại Hùng Vương, buổi bình minh dựng nước, Quảng Lưu là một bộ phận hành chính của đất Đại Việt Thường, nằm trong số 15 bộ phận của nước Văn Lang.

Sau thời đại Hùng Vương, đất nước ta trải qua nhiều biến động lịch sử mà Quảng Lưu cũng ở chung trong bối cảnh đó. Sách Đại Nam nhất thống chí (quyển III), khi nói về Quảng Bình, đoạn phế thành Lâm ấp có viết: "ở xã Trung Ái, huyện Bình Chính (Tức làng Trung Thuần, phủ Quảng Trạch) từ núi Thành Thang (núi Chóp Chài) chạy dài đến các làng Tô Xá, Vân Tập, Phù Lưu, vượt qua núi, quanh theo khe đều có ụ đất đứt riêng từng đoạn. Tương truyền đó là di tích thành cũ của nước Lâm Ấp, ở phía nam có sông Linh Thuỷ (Sông Gianh) nghi đây là khu túc hoặc luỹ cũ Hoàn Vương"

Quảng Lưu là mảnh đất còn để lại lưu truyền nhiều truyền thuyết và di tích lịch sử. Những năm gần đây, nhân dân đã thu lượm được một số công cụ của người Nguyên thuỷ như Rìu đá, Trống đồng, Rìu đồng, lưỡi câu đồng... Điều đó chứng tỏ vùng này trong thời kỳ đồ đá đã có cư dân cư trú hoặc đến làm ăn.

Mảnh đất Quảng Lưu cũng đóng góp quan trọng cho lĩnh vực khảo cổ học cả nước. Năm 1973 trong lúc lao động vỡ đất để canh tác nhân dân thôn Phù Lưu đào được một chiếc trống đồng khá hoàn chỉnh. Viện khảo cổ Trung ương đã vào tận nơi nghiên cứu tiếp nhận trống, hiện đang được lưu giữ tại bảo tàng Quảng Bình. Đồng chí nữ viện phó của viện cho rằng đây là chiếc Trống Đồng đầu tiên được tìm thấy ở phía Nam Đèo Ngang nước ta có thể ở khu vực khai quật được Trống Đồng trước đây là nơi tập trung của cơ quan đầu não về hành chính hoặc quân sự quan trọng trong thời kỳ lịch sử Trung đại. Năm 2000 đào được tiếp một trống Đồng ở Trung Thuần.

Cùng với khai quật được trống Đồng tháng 11 năm 1981 sở Văn hoá - Thông tin Bình - Trị -Thiên đã phối hợp với trường Đại học Tổng hợp Huế khai quật một ngôi mộ Chàm tại làng Vân Tập.

 Ngôi mộ nằm cách nơi phát hiện trống Đồng Phù Lưu khoảng 1,5 km về phía Tây. Theo kết luận bước đầu thì đây là một ngôi mộ cổ có hình dáng kích thước và cấu trúc khá đặc biệt khác với tất cả các loại hình mộ táng đã phát hiện, nghiên cứu trên đất nước ta. Căn cứ vào cấu trúc, hình dáng kích thước của ngôi mộ, căn cứ vào tổng thể của hiện vật ngôi mộ này được xếp vào phạm trù nghiên cứu của loại hình mộ Chàm. ([1])

Nằm ở phía Tây Bắc Phù Lưu (nay thuộc xã Quảng Tiến) có một dòng suối nhỏ. Thuở trước ở đây núi rừng rậm rạp, giữa dòng suối có 1 hòn đá lớn chặn ngang, người địa phương thường gọi là đá He Hẻo. Trên mặt đá có dấu tích mài gươm đao, tạo nên nhiều chổ lỏm như hình viên đá mài mà nhân dân thường dùng ở gia đình. Có thể đây là một bộ phận quân khởi nghĩa của Nguyễn Hữu Cầu hoặc của một đội quân nào đó mà người chỉ huy có tên là He Hẻo, phía bắc thôn Phù Lưu có một khe nước nóng, nằm ở phía tây khe nước nóng trên đường thiên lý Bắc Nam có Đền Thánh trước đây người ta nói thiêng nổi tiếng, phía Nam đền có một hệ thống miếu mạo như miếu cao, miếu quan quận, chùa.

Ở vùng trung tâm xã Quảng Lưu, nơi tiếp giáp giữa làng Trung Thuần và làng Vân Tập (nay là khu vực trụ sở xã) thời trước cây cối rậm rạp chạy suốt một dãy từ Hồ chứa nước Cây Cừa đến tận sân vận động  xã gọi là "huyền vũ" là nơi có nhiều cây cổ thụ, quanh năm không ai giám vào chặt phá, kể cả lấy củi khô vì đây có đền thờ của người Chàm. Gọi là đền nhưng chỉ là một nền đất hai bậc, trên có đặt một tượng bán thân người Chàm. Tượng là phụ nữ được tạc bằng đá thanh, nặng khoảng 100kg. Đền mới bị phá huỷ khoảng năm 1960-1962.

Bên cạnh mộ Chàm (đã khai quật) và tượng Chàm thì rải rác các nơi trong xã, trong đó chủ yếu ở vùng Tam Đa, vùng xóm 6 và 7 thôn Vân Tiền thường đào được mộ Chàm.

Mộ là những bình gốm đựng tro hài cốt đã hoả táng. Bình bằng gốm, cao khoảng 35cm, đường kính bình khoảng 10cm.

Từ những căn cứ lịch sử trên đây, có thể chia một phần vùng Quảng Lưu trước Cách mạng Tháng 8 năm 1945 làm ba thời kỳ lịch sử.

1. Thời kỳ trước năm 1670

Theo sách Đại nam nhất thống chí, quyển VIII, phần nói về Quảng Bình thì năm 192 (sau Công nguyên) vùng Quảng Bình tách khỏi quận Giao Chỉ nhập vào một quốc gia mới là nước Lâm ấp của vua Cri-va-ra, đến năm 1103 thuộc về nhà Lý. Có lẽ do đó mà trong dân gian có câu:

"Quảng Trạch có luỹ Hoàn Vương

 Kinh đô Lâm Ấp Từ đường ngày xưa"

Từ Lâm ấp đến Chăm - pa (tức Chàm) trong phạm vi lịch sử của một địa phương nhỏ, chúng ta không thể đề cập một cách chi tiết nhưng ở Quảng Lưu có di chỉ người Chàm ở nhiều khía cạnh, do đó cần làm rõ hơn giá trị lịch sử của nó trên mảnh đất này.

Từ thuở xa xưa có thể từ phía Nam Đèo Ngang là biên giới địa đầu của nước Lâm Ấp sau này là Chăm -pa do đó mà còn để lại nhiều di tích đến nay. Dưới chân Đèo Ngang về phía Nam thuộc xã Quảng Đông, Quảng Hợp trước đây có con đường độc đạo từ Bắc vào Nam nay còn luỹ đá cao hơn 2m, dài mấy km thường gọi là "luỹ ông Ninh" hoặc "Luỹ ông Nang". Đây là công trình quân sự mà ông Ninh hay ông Nang có thể là tướng chỉ huy nơi biên ải. Từ luỹ này đi vào dọc đường sơn đạo đến giáp xã Quảng Lưu, Quảng Thạch, Quảng Châu còn có địa danh gọi là "Sân rộng" hoặc "Đấu đong quân"... Thực tế đây là nơi địa hình bằng phẳng vừa giáp khu căn cứ Phù Lưu- Trung Thuần vừa giáp biên giới tiền tiêu nên "Sân Rộng" là bãi tập quân sự, còn "Đấu đong quân" là nơi để điểm danh quân số lúc bấy giờ. Chạy dài theo địa hình từ Tây Nam đến Đông Bắc là Luỹ Hoàn Vương

          Qua nghiên cứu các dãy luỹ đất thì chúng được xây dựng hoàn toàn cho mục đích quân sự, có thể chia hệ thống luỹ được đắp bằng đất ra ba tuyến lập thành  một hệ thống phòng thủ.

- Tuyến thứ nhất: Xuất phát từ phía trên Rú Cấm (khu vực giáp giới giữa Quảng Lưu và Quảng Thạch) chạy ngang qua vùng xóm 1 của thôn Vân Tiền.

Tuyến luỹ này bảo vệ cho khu vực Đồng Kho và Đồng Quan xa hơn là bảo vệ cho núi Hành Điện và Ao cá, tuyến này dài khoảng 1200m.

- Tuyến thứ 2: Chạy dọc cánh đồng xóm 1, xóm 2 thôn Vân Tiền ra giáp xóm 3. Tuyến này dài khoảng 2000m.

- Tuyến thứ 3: Chạy từ phía dưới xóm 3 đến xóm 4, quanh ra xóm 7 dài khoảng 2km. Với tổng chiều dài  hơn 5km, chiều cao hơn 2m đắp toàn bằng đất, đây là một công trình khá đồ sộ, phải mất một thời gian dài huy động công sức của nhân dân và binh lính mới đắp xong ([2]). Giữa các luỹ đất có các ô trống chắc là nơi đặt các vọng gác hoặc ụ súng, mỗi ô có chiều rộng khoảng 4m.

Phía Đông xã thuộc thôn Phù Lưu có cồn Dinh, tương truyền đây là nơi trước đây họ định xây dinh thự, năm 1987 khi đào mương dân xóm 3 thôn Phù Lưu đã đào được một số cột gỗ lim có đường kính 30- 40 cm.

2. Thời kỳ từ năm 1671 đến hết thời kỳ Trịnh- Nguyễn phân tranh.

Khác với thời kỳ trước năm 1670, các hệ thống phòng thủ thường hướng về phía Bắc thì thời kỳ Trịnh-Nguyễn phân tranh, các tuyến phòng thủ ở khu vực Quảng Lưu và lân cận lại hướng về phía Nam, nhằm chống các lực lượng xâm nhập từ phía Nam ra.

Sách "Lịch triều tạp kỷ" có viết: tháng 11 năm 1672 quân Bắc Hà (chỉ quân của Chúa Trịnh) đánh lâu mỏi mệt có ý nhớ nhà, Chúa Trịnh dùng Lương Đăng Quang làm Tham đốc và Vũ Tuấn Tài làm Đề đốc để thưởng cho họ có công xung phong phá giặc.

Chúa Trịnh rước xa giá vua Lê về đóng ở điện Phù Lỗ, xã Vĩnh An thuộc châu Bắc Bố Chính, để một vạn quân trinh sát cho Lê Thời Hiển đóng ở Chánh Thuỷ. Thời Hiển ba lần đánh luỹ Trấn Ninh không được bèn rút quân về Bắc Bố Chính. Chúa Trịnh cho rằng đất Hoá Châu (từ Đèo Ngang đến đèo Hải Vân) ẩm thấp, gặp giữa mùa đông lại càng giá rét, quân lính khó ở lâu được bèn xin vua Lê kéo quân về. Sai Lê Thời Hiển trấn giữ Nghệ An kiêm trấn giữ Châu Bố Chính, binh bộ tả thị lang bồi tụng Lê Sỹ Triệt làm đốc thị, khống chế biên cương giữ an ninh cho địa phương.

Bọn Thời Hiến đặt cẩm doanh ở phủ Hà Hoa làm lị sở, cho quân đóng ở các xã thuỷ vực, Tô Xá thuộc châu Bắc Bố Chính, dùng sông Đại Linh (tức sông Gianh) làm giới hạn (1).

          Như vậy các di tích thời Trịnh- Nguyễn phân tranh trên vùng đất Quảng Lưu được hình thành từ năm 1672 và được phát triển cũng cố suốt thời kỳ Trịnh- Nguyễn phân tranh cho đến khi vua Quang Trung thống nhất đất nước vào năm 1778. Hướng về phía Nam sông Gianh đất đai thuộc quyền Chúa Nguyễn, Chúa Trịnh đã xây dựng ở bờ Bắc sông Gianh (Bao gồm cả huyện Quảng Trạch) một hệ thống phòng thủ dày đặc và kiên cố. Trung tâm của hệ thống phòng thủ này có 3 đồn chính. Đồn hậu cứ đóng ở làng Trung Ái(2), đồn thứ hai là đồn Roòn đóng tại làng Cảnh Dương để phòng quân chúa Nguyễn xâm nhập bằng đường biển, thứ ba là đồn Tiền Tiêu đóng tại làng Thuận Bài (nay thuộc xã Quảng Thuận).

Lực lượng hàng vạn quân bố phòng của Chúa Trịnh luôn bị quân Chúa Nguyễn vượt Sông Gianh tập kích đánh phá, quân sỉ Chúa Trịnh chủ yếu là người Bắc Hà vừa xa nhà vừa không quen khí hậu nên Chúa Trịnh phải tạo điều kiện cho họ định cư lập nghiệp lâu dài ở đây, có nhiều hình thức sinh hoạt để thu hút, động viên tinh thần quân lính. Một trong các hình thức đó là tổ chức các ngày hội linh đình cho binh lính vui chơi giải trí. Họ chọn mỗi tháng 3 ngày là vào các ngày 06-16 và 26 (âm lịch) làm ngày hội quân. Theo quy ước giữa hai bên Trịnh- Nguyễn cứ đến ngày hội quân thì đình chiến và quân lính có thể qua lại giao lưu... Ngày hội quân, quân lính từ các đồn kéo về tập trung phía sau Đồn Thuận Bài (Khu vực thị trấn Ba Đồn hiện nay) để thao diễn, tổ chức trò chơi, hát xướng. Quy ước trong những ngày hội quân hai bên đều dừng chiến sự. Vậy nên cứ đến ngày hội quân thì nhân dân các vùng xung quanh thường kéo đến để tham gia vui chơi, bán hàng hoá. Quy mô các ngày hội ngày càng lớn, quân lính và nhân dân tham gia ngày càng đông sau dần thành lệ, cứ đến những ngày này là khu vực hội quân của Ba Đồn trở thành nơi mua bán trao đổi hàng hoá dần dần thành chợ tức là chợ Ba Đồn ngày nay.

          Tại đồn hậu cứ Trung Thuần, quân đội Chúa Trịnh tạo nên một khu quân sự trung tâm khá đồ sộ. Phía cuối làng Trung Thuần là chợ Cổng. Đây chính là cổng đi vào căn cứ của chúa Trịnh. Đi hết chợ Cổng khoảng 200m thì qua Khe Cái bằng chiếc cầu gọi là cầu Thượng Gia (Nghĩa là qua cầu thì được lên nhà) ([3]).

          Từ chợ Cổng đi lên phía tây là núi Vọng Bái, đây là cột cờ chúa của Trịnh. Phía dưới cột cờ suốt từ Nam đến Tây Nam thuộc địa phận làng Tô Xá cũng là cổng Tiền. Từ cổng Tiền có bờ đất bao quanh dài 1,5km cho đến cổng Hậu. Ở cổng Hậu có giếng Quản Voi, giếng sâu khoảng 5m. Tưòng giếng từ đáy lên lát bằng gổ cây trai. Tương truyền rằng giếng này dùng để lấy nước cho voi uống. Từ chợ Cổng dọc đường cái đi lên đến quá chân núi Vọng Bái chiều dài hơn 400m, chiều rộng khoảng 100- 200m gọi là Trung Chính đình. Tương truyền rằng đây là sở chỉ huy của quân phòng thủ của Chúa Trịnh.

Phía trên hòn Vọng Bái khoảng 400m là núi Động Chùa, nguyên trước đây có một ngôi chùa do các nhà sư gốc Trung Quốc làm trụ trì. Chùa này sau bị đốt phá phải chuyển đi nơi khác. Trong "Phản phúc ước" Cụ Nguyễn Hàm Ninh viết về ngôi chùa này như sau:

            "Vàng bạc chú Ngô chôn những mấy

                Cao lâu kia khói mịt ngàn xưa"

  Bao quanh Trung Chính đình là một cánh đồng, phía ngoài là Khe Cái, diện tích khu vực này khoảng 4 ha, trong số ruộng đất làng Trung Thuần đặt tên là Phụng Tiều xứ, ngoài ra còn có tên gọi là Đồng Chông vì Thời kỳ Trịnh- Nguyễn đây là bải cắm chông để chống voi ngựa của đối phương. Chông làm bằng gổ lim dài 1,5-2m. Khi cắm chông người ta đào hầm rồi chôn bàn chông xuống, nguỵ trang lại, khi xung trận voi, ngựa sa xuống hầm bị chông đâm. Gần đây trong lúc sản xuất hoặc làm thuỷ lợi nhân dân còn tìm được bàn chuông.

Phía trên Đồng Chông từ cổng Vũng Chùa lên khoảng 400m bao quanh Đồng Chọ, vùng này trong sổ ruộng đất gọi là Dì Đà xứ, ngoài ra còn có tên gọi là đồng "Mũi Súng" vì dọc hòn Vọng Bái lên đến Vũng Chùa, Mũi Súng là hệ thống hào giao thông, tất cả hệ thống bố phòng đó đều chĩa mũi súng ra phía trước nhằm bảo vệ cột cờ Vọng Bái và Trung Chính đình. Trên đỉnh Vọng Bái, ngoài cột cờ còn đặt 3 khẩu súng thần công bằng đồng. Khoảng năm 1925-1926, một số quan chức Pháp có đến núi Vọng Bái nghiên cứu, có hỏi nhân dân địa phương về những khẩu súng này.

Từ núi Vọng Bái băng qua cánh đồng về phía Đông Bắc khoảng hơn 1km là Dinh Cừ dinh, Dinh Cừ dinh ra đời cùng lúc với Trung Chính đình. Đây cũng là một địa bàn quan trọng về quân sự và kinh tế. Quân đồn trú của Chúa Trịnh đã dựa vào hào luỹ thời Chăm -pa, Lâm- ấp để lập thành căn cứ của mình. Dinh Cừ dinh bao gồm khu vực nhà kho, trường Tiểu học số 1, trường Trung học cơ sở, trụ sở làm việc của xã và các vùng lân cận. Đây là nơi vừa yểm trợ cho vùng cột cờ Vọng Bái vừa là nơi kho tàng tích trử lương thực, vũ khí vận chuyển từ cữa Roòn vào và một phần sản xuất tại chổ.

3. Thời kỳ khởi nghĩa Cần Vương (1887-1888).

Năm 1885 triều đình phong kiến nhà Nguyễn đầu hàng thực dân Pháp nhưng nhân dân ta từ Bắc chí Nam đều nổi dậy chống quân cướp nước, trong đó phong trào Cần Vương là một điển hình. Khi Tôn Thất Thuyết, Thượng thư Bộ Binh của triều Nguyễn cùng vua Hàm Nghi ra Sơn Phòng Quảng Trị và Quảng Bình hạ chiếu Cần Vương thì phong trào chống Pháp phát triển khá mạnh.

Trong phong trào Cần Vương, xã Quảng Lưu một lần nữa lại thể hiện vị trí quan trọng của một bộ phận nghĩa quân Cần Vương. Chỉ huy nghĩa quân ở vùng Quảng Trạch- Tuyên Hoá là quan đề đốc Lê Trực, ông quê ở làng Thanh Thuỷ nay là xã Tiến Hoá, huyện Tuyên Hoá, ông đậu tiến sỹ võ.

Khi nhân dân hưởng ứng chiếu Cần Vương hăng hái đứng lên đánh giặc thì có một cuộc họp quan trọng của những người chỉ huy nghĩa quân và sỹ phu thân hào yêu nước của các xã vùng Quảng Trạch tại đình làng Lộc Điền (nay thuộc xã Quảng Thanh) để bàn kế đánh giặc. Vùng Trung Thuần lại được chọn làm căn cứ của nghĩa quân do Lê Trực chỉ huy. Tại Khe Giang nhiều địa danh mới xuất hiện trong thời kỳ này như Sáng Trăng, Trưa Mạ ở xóm Khe Giang (thuộc xã Quảng Thạch). Tại xóm Hà ngoài trong vườn nhà đồng chí Phan Nhân hiện còn có dấu tích đặt các lò rèn để rèn vũ khí.

Nhân dân vùng Quảng Lưu hăng hái tham gia nghĩa quân và phục vụ nghĩa quân. Một số người đựơc giao các chức vụ khá quan trọng như: ông Phan Vịnh, ông Thừa Mậu làm biện lại; ông Phạm Ngô làm đốc vận quân lương; ông Phan Tuỳ, ông Phó Thiều làm hoả pháo ([4]).

          4. Quá trình hình thành làng, xã, dân cư:

Sự hình thành dân cư trên địa bàn xã Quảng Lưu diễn ra theo tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc Việt Nam. Qua nghiên cứu gia phả của một số dòng họ ở trong xã và trong huyện thì dân cư sinh sống ở Quảng Lưu được phát triển từ thời Lý- Trần, đỉnh cao là thời kỳ Trịnh- Nguyễn phân tranh, các dòng họ ở Quảng Lưu đều có nguồn gốc từ các tỉnh phía Bắc di cư vào, nhất là từ Hà Nam, Thanh Hoá, Nghệ Tĩnh, cả xã có khoảng 10 dòng họ, trong đó Phù Lưu có 5 dòng họ đông nhất là họ Biền, họ Phan, họ Nguyễn. Làng Vân Tập đông nhất là họ Trương, họ Trần. Làng Trung Thuần đông nhất là họ Nguyễn, họ Phan, họ Lê (khoảng 12 đời). Như vậy khác với một số xã khác chỉ có vài dòng họ thì ở Quảng  Lưu có nhiều dòng họ và nguồn gốc có thể do trước đây là nơi đóng các lỵ, sở, chỉ huy sở, mặt khác thời kỳ đó chưa có tuyến đường vượt đèo Ngang theo quốc lộ 1A như hiện nay mà tuyến đường chính là từ Quảng Hợp qua Quảng Lưu rồi đi vào phía Nam, các vua chúa nhất là thời Lý- Trần, đến thời Trịnh- Nguyễn có chính sách vận động di dân với quy mô lớn, trong đó binh lính, quan chức vào đồn trú là những đối tượng ưu tiên cho việc định cư. Bài hát "Chợ Đồn bán đắt cau khô" có thể xuất phát trong hoàn cảnh này:

                   "Chợ Đồn bán đắt Cau Khô

                    Một đoàn con gái trẩy vô thăm chồng

                    Gặp trộ mưa dông

                    Đường trơn gánh nặng

                    Mặt trời đã lặn

                    Đèo Ngang chưa trèo

                    Gặp hòn đá cheo leo

                    Nhủ bạn trèo răng được

                    Gặp o gánh nước

                    Gặp chú chăn trâu

                    Hỏi rằng đồn lính đóng đâu"

          Từ thế kỷ XIII, XIV, đã hình thành làng xã ở Quảng Lưu, dân cư tập trung chủ yếu trong các làng Trung Thuần, Vân Tập, Phù Lưu. Theo Đại Việt sử ký toàn thư, và Dư địa chí Quảng Bình của tác giả Nguyễn Tú thì vào cuối thế kỷ XIII đời nhà Trần, Bà Nguyễn Thị Quý Ba khi đó đã 42 tuổi từ Hà Nam vào đưa Dân khai khẩn vùng đất Phù Lưu lập điền, trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải. Vua Trần Hiển Tông thấy Bà có công lớn đã sắc phong cho Bà tước hiệu” Tiên sơn khai khẩn Nguyễn Thị Quý Ba, hộ công sinh nghi, công phù hiển hách, trực bảo trung hưng, trung đẳng thần”. Bà mất ngày 15 tháng chạp năm 1336. Làng Phù Lưu đã lập Bà làm Thành hoàng. Như vậy làng Phù Lưu và các làng ở Quảng Lưu đã được hình thành từ thế kỷ XIII- XIV. Dân cư Quảng Lưu ở thế kỷ XIII, XIV, khoảng chưa quá một ngàn người, cuộc điều tra dân số năm 1957 Quảng Lưu có hơn 2500 người. Trong thời gian 1965-1970 ở vùng Quảng Lưu có chủ trương tiếp nhận một số đồng bào các xã khác đến định cư, trong đó nhiều nhất là bà con xã Quảng Hải, Quảng Phong và Quảng Tùng.

5. Di tích cách mạng.

Trung Thuần vừa là khu căn cứ cách mạng vừa là chiến khu trong kháng chiến chống thực dân Pháp trải dài từ Khe Giang xã Quảng Thạch đến Chợ Cổng, Phù Lưu xã Quảng Lưu tạo nên một quần thể di tích cách mạng song song với quần thể di tích lịch sử.

Chòm Hà là nơi đóng sở chỉ huy của Mặt trận Việt minh và uỷ ban khởi nghĩa huyện vào tháng 7-1945, là nơi huấn luyện đội tự vệ vũ trang bí mật của huyện, lực lượng chủ công khởi nghĩa giành chính quyền ngày 23/8/1945 tại phủ đường Quảng Thạch ở Ba Đồn.

Chòm Trại Sim là nơi họp Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ nhất.

           Chòm Khe Giang là địa điểm mở hội nghị cán bộ đầu tiên của huyện để bổ sung Ban chấp hành lâm thời Đảng bộ huyện để lãnh đạo kháng chiến chống Pháp của huyện.

Chợ Cổng là nơi đặt hòm thư bí mật của Phủ uỷ trước năm 1945, từ tháng 6 đến 22/9/1945 là địa điểm liên lạc bí mật để tiếp nhận lực lượng tự vệ tập kết về chiến khu Trung Thuần để huấn luyện quân sự.

Ao cá là trại cư và trại chăn nuôi gia tăng sản xuất của huyện từ tháng 4/1947 và cũng là cơ quan đầu não của huyện sơ tán về đóng trong một thời gian.

Các xóm Cây Mang, Xuân Vương, Tiên Miếu, Tam Đa, Dinh Cừ và Phù Lưu đều là những nơi mà cơ quan cấp huyện và một số cơ quan cấp tỉnh sơ tán về trong kháng chiến chống Pháp.

Trên đỉnh Rú cấm là nơi diễn ra trận chống càn do nhân dân du kích Trung Thuần tiến hành giết chết hai tên sỹ quan Pháp và làm bị thương một số tên.

Nhân dân Trung Thuần nói chung và nhân dân Quảng Lưu nói riêng đã làm hết sức mình để xây dựng và bảo vệ chiến khu, góp phần xứng đáng vào thắng lợi của Cách mạng tháng 8 năm 1945 và kháng chiến chống Pháp của huyện nhà.

VĂN HOÁ VÀ DANH NHÂN VĂN HOÁ

1. Văn hoá.

Việt Nam là một dân tộc có nền văn hoá lâu đời rất phong phú và đa dạng. Ngoài các vốn văn hoá chung của dân tộc thì mỗi địa phương lại có bản sắc văn hoá riêng của mình.

Quảng Lưu nói riêng và Quảng Trạch nói chung là nơi có sự tiếp xúc, giao lưu văn hoá giữa hai miền Bắc - Nam, giữa "Đàng Trong" và "Đàng Ngoài" về đơn vị hành chính cũng có nhiều thay đổi. 

1.  Chỉ vùng đất Quảng Bình vì tên gọi trước là  Ô Châu

2. "Kinh" chỉ người các tỉnh ngoài miền bắc, nơi đóng kinh đô

3. Tạp chí nghiên cứu lịch sử số 181 năm 1978, trang 71- 81

4. Thơ của Lý Tử Tấn trong" Dư địa chí" của Nguyễn Trải, phần viết về vùng đất Thuận-Quảng.

 Quảng Lưu có thời kỳ thuộc Đàng Trong, khi thuộc Đàng Ngoài mỗi giai đoạn như vậy kéo dài hàng chục, hàng trăm năm, do đó mà mức độ tiếp thu chịu ảnh hưởng văn hoá Đàng Ngoài hoặc Đàng Trong đều khá sâu sắc.Nếu các tỉnh phía Bắc có hát chèo, hát quan họ, miền Trung có hát dặm Nghệ Tỉnh, dân ca Bình Trị Thiên, tuồng Nam Bộ, có hát cải lương thì ở vùng Quảng Trạch không có một loại dân ca nào rõ rệt mà phần nhiều mang tính pha trộn.

Tuy nhiên do thời gian phụ thuộc Đàng ngoài nhiều hơn, nhân dân Quảng Lưu phần lớn là gốc ở từ Thanh- Nghệ- Tĩnh nên ngôn ngữ và văn hoá đều chịu ảnh hưởng nhiều nhất của vùng đất này, nhất là ngôn ngữ và hát dặm Nghệ Tĩnh.

Trước Cách mạng tháng 8 năm 1945 thịnh hành nhất ở Quảng Lưu là hát ca trù, còn gọi là hát ả đào hoặc hát nhà trò. Trung Thuần là nơi có nhiều cặp hát nhà trò nổi tiếng, có kép giải về hát, thường tổ chức hát vào các ngày lễ hội, dịp làng cúng thần vào rằm tháng 6 âm lịch, hát mừng khi có người thi đỗ đậu vinh quy bái tổ hoặc những người giàu có bỏ tiền ra thuê hát để mua vui.

Ngoài hát ca trù ở Quảng Lưu còn có hát Kiều. Phường Kiều chủ yếu ở làng Vân Tập, hầu như các phường Kiều ở Quảng Trạch đều hát chung một thể loại và cùng nội dung.

Những đêm hát ca trù hoặc hát kiều thường thâu đêm suốt sáng. Cụ Nguyễn Hàm Ninh đã tả lại cảnh hát ca trù trong" Phản phúc ước" như sau:

"Sợ lúc ham vui mắc lận, giầy thầy cai ném xuống vực chùa.

 E khi quá giấc mà say, váy bà Hậu trôi về đồng vải".

          2. Danh nhân văn hoá

Quảng Lưu có nhiều người học giỏi, hay chữ, tiêu biểu là cụ Nguyễn Hàm Ninh- Danh nhân văn hoá,nhà thơ. Lăng mộ của cụ đã được UBND tỉnh Quảng Bình xếp hạng Di tích lịch sử - Văn hoá theo Quyết định số 1768, QĐ-UB ngày 09/7/2003. Trong cuốn "Lược truyện các tác giả Việt Nam của nhà xuất bản khoa học xã hội có viết:

"Nguyễn Hàm Ninh tự Thuận Chi, hiệu Tỉnh Trai, người huyện Bình Chính, tỉnh Quảng Bình, ông sinh năm 1808 (Thiệu trị thứ nhất) làm án sát bị cách chức, Nguyễn Hàm Ninh nổi tiếng hay chữ, giỏi thơ ngụ ngôn, ông là bạn xướng hoạ với Cao Bá Quát".

           Tác phẩm của ông có: Tỉnh Trai thi tập

Theo "Nguyễn gia thế phổ" do Nguyễn Hàm Ninh chủ biên thì ông tổ năm đời của Nguyễn Hàm Ninh đã đậu tú tài tại kinh đô Thăng Long triều đại nhà Lê. Ông thân sinh Nguyễn Hàm Ninh có ba người con trai thì cả ba đều học giỏi, hai người đậu cử nhân, một người đậu tú tài. Cuộc đời của Nguyễn Hàm Ninh có nhiều thăng trầm. Lúc ông dạy "Đông cung thái tử" tức vua Thiệu Trị lúc còn nhỏ thì gặp phải vua Minh Mạng là một ông vua "Hôn quân bạo chúa". Khi vua Minh Mạng chết, Thiệu Trị lên ngôi thì Nguyễn Hàm Ninh mới có dịp để thi thố tài năng trên lĩnh vực văn đàn, có điều kiện để thăng quan tiến chức. Nhưng vua Thiệu Trị lên ngôi mới được một năm thì ông bị bắt cóc về Trung Quốc, khi trả về nước thì bị cách chức án sát tỉnh Khánh Hoà và đày đi lưu trú tại Quảng Nam. Do tình nghĩa thầy trò nên một tháng sau vua Thiệu Trị ra lệnh ân xá và cho triệu về kinh nhận chức" Trai đàn hiệu lực." Sau đó vua Thiệu Trị mất, Tự Đức lên ngôi, là một ông vua kiêu ngạo, lại giết cả gia đình anh ruột mình nên Nguyễn Hàm Ninh không phục, khi có dịp đã làm thơ chửi lại. Sau đó ông cáo quan về làng làm thầy thuốc và chu du đó đây. Ông cũng bất bình với vua Tự Đức về chính sách thoả hiệp nhân nhượng và đầu hàng thực dân Pháp. Ông là người chứng kiến việc vua Tự Đức nhượng ba tỉnh Nam Kỳ cho thực dân Pháp, đổ công của xây dựng "Vạn niên cơ" bỏ mặc nhân dân bị giặc ngoại xâm và lũ lụt gây ra bao cảnh tang tóc.

          Nguyễn Hàm Ninh để lại cho chúng ta nhiều văn thơ, trong đó có tác phẩm "Phản phúc ước" nhằm lên án bọn tham ô quan lại, bọn cường hào hương lý chỉ biết đục khoét ức hiếp nhân dân.

Phản phúc ước là tác phẩm mà Nguyễn Hàm Ninh đứng về phía nhân dân lao động để lên án giai cấp thống trị, trực tiếp là bọn địa chủ cường hào, hương lý trong làng. Trong tác phẩm ông cũng giành một phần thích đáng để ca ngợi con người, lịch sử quê hương. Ngoài cụ Nguyễn Hàm Ninh, quê hương chúng ta còn có nhiều người sáng tác thơ văn, trong đó tiêu biểu như cụ: Phan Dụ....

          Trải qua hơn 70 năm đấu tranh cách mạng, Đảng bộ và nhân dân Quảng Lưu đã góp phần quan trọng trong việc xây dựng và bảo vệ chiến khu Trung Thuần, tham gia khởi nghĩa cướp chính quyền tại Ba Đồn, đến kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa đã lập nên bao chiến công, bao thành tích xuất sắc. Trên con đường đó biết bao đồng bào chiến sĩ đã hy sinh, đã cống hiến thân thể, sức lực, trí tuệ cho sự thành công của cách mạng và sự đổi mới của quê hương đất nước mà chiến tích còn lưu lại. Và hôm nay đây lại tiếp tục chung tay cùng đất nước xây dựng quê hương ngày càng đổi mới./.

        Theo lịch sử Đảng bộ xã Quảng Lưu Tập 1, (1930-2000)

 

 ([1]) Nn m có cu to hình vuông mi cnh dài 5 mét, cu trúc theo kiu trong quan ngoài quách (quách ngoài được to bi gch và đất sét do, quan bng đá phiến) gm có hai quách t ngoài vào, quách ngoài cùng được lát bng 5 lp cao 35 cm; b dày 1 mét...Quách được xây trên mt lp đất cát pha si đá. Quách trong cùng được lát 5 lp gch, cao 40 cm, dày 1,4 mét, cnh ngoài dài 2 mét, cnh trong 75 cm. Gch đây có màu đỏ tươi không có hoa văn, được nung nhit độ cao. .Huyt m có cu to hình khi, mi cnh rng 70 cm, sâu 40 cm. Bn phía chèn 4 tm đá phiến, kích thước mi tm 1,3 m x 0,6 m x 0,5 m. Np huyt là mt tm đá sa thch có hình vuông gm hai bc. Đây là ln đầu tiên phát hin và khai qut m Chàm, cung cp mt loi hình m trong vic nghiên cu lch s m Chàm nói riêng và m táng Vit Nam nói chung. Nó cũng là chng c kho c hc vô cùng quý giá giúp ta nghiên cu v lch s văn hoá, v địa bàn cư trú ca dân tc Chàm trên đất nước ta.

(Trích trong bài viết ca T Đình Hà và Nguyn Thanh Phong đăng trên báo Bình Tr Thiên tháng 8 năm 1981).

                                                                                         

        (1). Các lu  đắp bng đất này đã b san bng để ci to làm rung t năm1965-1975 nay còn li mt đon phía sau khu lò ngói Vân Tin.

                     ([3]).  Chữ Hán  "Thượng" là lên, còn "gia" nghĩa là nhà.

     ([4]). Ông Phan Vnh là b đẻ đồng chí Phan Hi, ông Tha Mu là ông ni c Phan Báu, ông Phm Ngô là b đẻ c Phm Đô, ông Phan Tu là b đẻ c Phan Triết, ông Phan Thiu là b đẻ đồng chí Phan Bình.

 

More